Từ 25/6, phạt tới 1 tỷ đồng đối với vi phạm trong lĩnh vực lâm nghiệp
- Thứ hai - 11/05/2026 19:27
- In ra
- Đóng cửa sổ này
Chính phủ vừa ban hành quy định tăng mạnh chế tài phạt trong lĩnh vực lâm nghiệp, đặc biệt với hành vi chậm trồng rừng thay thế, lấn, chiếm rừng kéo dài nhiều năm.
Siết chặt hoạt động trồng rừng thay thế
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 146/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp. Theo Nghị định, từ ngày 25/6, các vi phạm trong lĩnh vực này có thể bị phạt tiền tối đa lên tới 500 triệu đồng đối với cá nhân và 1 tỷ đồng đối với tổ chức.
Một trong những nội dung đáng chú ý nhất của Nghị định là quy định xử phạt hành vi chậm trồng rừng thay thế theo phương án hoặc kế hoạch đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; hoặc chậm trồng lại rừng sau khi tạm sử dụng rừng. Theo Điều 18, mức phạt được xác định dựa trên hai yếu tố: Diện tích phải trồng rừng và thời gian chậm thực hiện.
Cụ thể, hành vi vi phạm quy định về chậm trồng rừng thay thế theo phương án hoặc kế hoạch trồng rừng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc chậm trồng lại rừng sau khi tạm sử dụng rừng theo phương án tạm sử dụng rừng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt bị xử phạt như sau:
Chậm trồng rừng diện tích dưới 2 ha: Phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 1 năm đến dưới 2 năm; Phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 2 năm đến dưới 3 năm; Phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 3 năm trở lên.
Chậm trồng rừng diện tích từ 2 ha đến dưới 5 ha: Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 25 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 1 năm đến dưới 2 năm; Phạt tiền từ 25 triệu đồng đến 50 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 2 năm đến dưới 3 năm; Phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 70 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 3 năm trở lên.
Chậm trồng rừng diện tích từ 5 ha đến dưới 15 ha: Phạt tiền từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 1 năm đến dưới 2 năm; Phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 120 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 2 năm đến dưới 3 năm; Phạt tiền từ 120 triệu đồng đến 150 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 3 năm trở lên.
Chậm trồng rừng diện tích từ 25 ha đến dưới 35 ha: Phạt tiền từ 220 triệu đồng đến 250 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 1 năm đến dưới 2 năm; Phạt tiền từ 250 triệu đồng đến 270 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 2 năm đến dưới 3 năm; Phạt tiền từ 270 triệu đồng đến 300 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 3 năm trở lên.
Khi diện tích rừng chậm trồng từ 55 ha trở lên thì mức phạt có thể lên mức tối đa, cụ thể: Phạt tiền từ 450 triệu đồng đến 470 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 1 năm đến dưới 2 năm; Phạt tiền từ 470 triệu đồng đến 490 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 2 năm đến dưới 3 năm; Phạt tiền từ 490 triệu đồng đến 500 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 3 năm trở lên...
Ngoài hình thức phạt tiền, Nghị định cũng buộc tổ chức, cá nhân vi phạm phải trồng lại rừng ngay trong vụ trồng rừng kế tiếp, nhưng không quá 12 tháng kể từ ngày bị xử phạt.
Có thể thấy, Nghị định lần này nâng đáng kể chi phí vi phạm đối với các chủ đầu tư chậm thực hiện nghĩa vụ trồng rừng thay thế. Trong bối cảnh nhiều dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng nhưng việc phục hồi rừng diễn ra chậm hoặc kéo dài nhiều năm, việc tăng chế tài được xem là động thái nhằm siết trách nhiệm hậu khai thác và hạn chế tình trạng nợ trồng rừng thay thế.
Mức phạt đối với các hành vi lấn, chiếm rừng
Bên cạnh hành vi chậm trồng rừng thay thế, Nghị định số 146/2026/NĐ-CP cũng quy định cụ thể mức xử phạt đối với hành vi lấn, chiếm rừng. Theo đó, mức phạt được phân chia theo từng loại rừng gồm rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và diện tích vi phạm thực tế.
Cụ thể, phạt tiền từ 1 đến 2 triệu đồng đối với một trong các trường hợp: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích dưới 1.000 m2; Rừng sản xuất có diện tích dưới 500 m2; Rừng phòng hộ có diện tích dưới 100 m2; Rừng đặc dụng có diện tích dưới 50 m2.
Phạt tiền từ 2 đến 5 triệu đồng đối với một trong các trường hợp: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 1.000 m2 đến dưới 5.000 m2; Rừng sản xuất có diện tích từ 500 m2 đến dưới 3.000 m2; Rừng phòng hộ có diện tích từ 100 m2 đến dưới 2.000 m2; Rừng đặc dụng có diện tích từ 50 m2 đến dưới 1.000 m2.
Phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng đối với một trong các trường hợp: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 5.000 m2 đến dưới 10.000 m2; Rừng sản xuất có diện tích từ 3.000 m2 đến dưới 5.000 m2; Rừng phòng hộ có diện tích từ 2.000 m2 đến dưới 4.000 m2; Rừng đặc dụng có diện tích từ 1.000 m2 đến dưới 3.000 m2.
Mức phạt sẽ lên tới 60 đến 80 triệu đồng đối với một trong các trường hợp: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích 50.000 m2 trở lên; Rừng sản xuất có diện tích 20.000 m2 trở lên; Rừng phòng hộ có diện tích 15.000 m2 trở lên; Rừng đặc dụng có diện tích 10.000 m2 trở lên.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 146/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp. Theo Nghị định, từ ngày 25/6, các vi phạm trong lĩnh vực này có thể bị phạt tiền tối đa lên tới 500 triệu đồng đối với cá nhân và 1 tỷ đồng đối với tổ chức.
Một trong những nội dung đáng chú ý nhất của Nghị định là quy định xử phạt hành vi chậm trồng rừng thay thế theo phương án hoặc kế hoạch đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; hoặc chậm trồng lại rừng sau khi tạm sử dụng rừng. Theo Điều 18, mức phạt được xác định dựa trên hai yếu tố: Diện tích phải trồng rừng và thời gian chậm thực hiện.
Cụ thể, hành vi vi phạm quy định về chậm trồng rừng thay thế theo phương án hoặc kế hoạch trồng rừng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc chậm trồng lại rừng sau khi tạm sử dụng rừng theo phương án tạm sử dụng rừng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt bị xử phạt như sau:
Chậm trồng rừng diện tích dưới 2 ha: Phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 1 năm đến dưới 2 năm; Phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 2 năm đến dưới 3 năm; Phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 3 năm trở lên.
Chậm trồng rừng diện tích từ 2 ha đến dưới 5 ha: Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 25 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 1 năm đến dưới 2 năm; Phạt tiền từ 25 triệu đồng đến 50 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 2 năm đến dưới 3 năm; Phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 70 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 3 năm trở lên.
Chậm trồng rừng diện tích từ 5 ha đến dưới 15 ha: Phạt tiền từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 1 năm đến dưới 2 năm; Phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 120 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 2 năm đến dưới 3 năm; Phạt tiền từ 120 triệu đồng đến 150 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 3 năm trở lên.
Chậm trồng rừng diện tích từ 25 ha đến dưới 35 ha: Phạt tiền từ 220 triệu đồng đến 250 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 1 năm đến dưới 2 năm; Phạt tiền từ 250 triệu đồng đến 270 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 2 năm đến dưới 3 năm; Phạt tiền từ 270 triệu đồng đến 300 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 3 năm trở lên.
Khi diện tích rừng chậm trồng từ 55 ha trở lên thì mức phạt có thể lên mức tối đa, cụ thể: Phạt tiền từ 450 triệu đồng đến 470 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 1 năm đến dưới 2 năm; Phạt tiền từ 470 triệu đồng đến 490 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 2 năm đến dưới 3 năm; Phạt tiền từ 490 triệu đồng đến 500 triệu đồng đối với hành vi chậm trồng rừng từ 3 năm trở lên...

Tổ chức chậm trồng rừng thay thế có thể bị phạt tới 1 tỷ đồng. Ảnh: T.N.
Ngoài hình thức phạt tiền, Nghị định cũng buộc tổ chức, cá nhân vi phạm phải trồng lại rừng ngay trong vụ trồng rừng kế tiếp, nhưng không quá 12 tháng kể từ ngày bị xử phạt.
Có thể thấy, Nghị định lần này nâng đáng kể chi phí vi phạm đối với các chủ đầu tư chậm thực hiện nghĩa vụ trồng rừng thay thế. Trong bối cảnh nhiều dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng nhưng việc phục hồi rừng diễn ra chậm hoặc kéo dài nhiều năm, việc tăng chế tài được xem là động thái nhằm siết trách nhiệm hậu khai thác và hạn chế tình trạng nợ trồng rừng thay thế.
Mức phạt đối với các hành vi lấn, chiếm rừng
Bên cạnh hành vi chậm trồng rừng thay thế, Nghị định số 146/2026/NĐ-CP cũng quy định cụ thể mức xử phạt đối với hành vi lấn, chiếm rừng. Theo đó, mức phạt được phân chia theo từng loại rừng gồm rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và diện tích vi phạm thực tế.
Cụ thể, phạt tiền từ 1 đến 2 triệu đồng đối với một trong các trường hợp: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích dưới 1.000 m2; Rừng sản xuất có diện tích dưới 500 m2; Rừng phòng hộ có diện tích dưới 100 m2; Rừng đặc dụng có diện tích dưới 50 m2.
Phạt tiền từ 2 đến 5 triệu đồng đối với một trong các trường hợp: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 1.000 m2 đến dưới 5.000 m2; Rừng sản xuất có diện tích từ 500 m2 đến dưới 3.000 m2; Rừng phòng hộ có diện tích từ 100 m2 đến dưới 2.000 m2; Rừng đặc dụng có diện tích từ 50 m2 đến dưới 1.000 m2.
Phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng đối với một trong các trường hợp: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 5.000 m2 đến dưới 10.000 m2; Rừng sản xuất có diện tích từ 3.000 m2 đến dưới 5.000 m2; Rừng phòng hộ có diện tích từ 2.000 m2 đến dưới 4.000 m2; Rừng đặc dụng có diện tích từ 1.000 m2 đến dưới 3.000 m2.
Mức phạt sẽ lên tới 60 đến 80 triệu đồng đối với một trong các trường hợp: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích 50.000 m2 trở lên; Rừng sản xuất có diện tích 20.000 m2 trở lên; Rừng phòng hộ có diện tích 15.000 m2 trở lên; Rừng đặc dụng có diện tích 10.000 m2 trở lên.
Nghị định cũng lưu ý, trường hợp lấn hoặc chiếm đất nông nghiệp là đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ hoặc đất rừng sản xuất nhưng chưa có rừng thì sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật đất đai, thay vì pháp luật lâm nghiệp.
Phúc Hưng
Nguồn Nongnghiepmoitruong.vn